Lê Thần Tông

Lê Thần Tông (1607 – 1662; trị vì: 1619-1643 và 1649-1662), tên húy là Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ 6 của nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.

Ông cũng là vị Vua Việt Nam duy nhất hai lần lên ngôi và là người Việt đầu tiên lấy vợ phương Tây.

Thân thế

Lê Duy Kỳ ra đời vào ngày 19 tháng 11 âm lịch năm Đinh Mùi (1607), là con trai trưởng của vua Lê Kính Tông và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, con gái thứ của chúa Bình An vương Trịnh Tùng. Như vậy ông là cháu nội của Lê Thế Tông và cháu ngoại của Trịnh Tùng.

Ông được sử sách mô tả là người có mũi cao, mặt rồng.

Lên ngôi

Lê Duy Kỳ sinh ra và lớn lên khi cuộc chiến tranh với nhà Mạc cơ bản chấm dứt, nhưng đồng thời nhà Lê đã mất thực quyền về tay quyền thần ông ngoại họ Trịnh. Điều đó khiến vua cha Kính Tông bất bình, liên kết với người con thứ của Trịnh Tùng là Trịnh Xuân (cậu của Duy Kỳ, muốn tranh ngôi con trưởng của Trịnh Tráng) định lật đổ Trịnh Tùng. Việc không thành, tháng 5 năm 1619, ông ngoại Trịnh Tùng buộc vua cha Kính Tông thắt cổ chết, rồi lập Lê Duy Kỳ, khi mới 12 tuổi, lên làm vua mới, tức là Lê Thần Tông.

Làm vua

Lần thứ nhất

Tháng 7 năm Quý Hợi (1623), nhân dịp Bình An vương Trịnh Tùng qua đời, Trịnh Xuân một lần nữa đem quân nổi lên để tranh ngôi chúa, vương thế tử Trịnh Tráng cùng vua Lê Thần Tông kéo quân ra Thanh Hóa để dẹp loạn.

Thời gian ở ngôi Lê Thần Tông làm vua chính là lúc cuộc chiến giữa quyền thần họ Trịnh và họ Nguyễn ở phía nam bùng nổ dữ dội. Cả 2 họ đều nhân danh “phù Lê” để chống lại nhau. Sau khiNguyễn Phúc Nguyên chính thức ly khai không thần phục họ Trịnh, cát cứ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam, tháng 2 năm 1627, cậu Trịnh Tráng (thay Trịnh Tùng năm 1623) rước ông đi thân chinh vào nam đánh họ Nguyễn. Tuy nhiên quân Lê Trịnh không thắng được quân Nguyễn phải rút về.

Năm Canh Ngọ (1630), tháng 5, vua lấy con gái của Trịnh Tráng là Trịnh Thị Ngọc Trúc làm hoàng hậu. Ngọc Trúc vốn là vợ của người bác họ vua là Lê Trụ sinh được 4 con. Lúc đó, Lê Trụ bị giam trong ngục. Trịnh Tráng đem Ngọc Trúc gả cho Thần Tông. Triều thần là Nguyễn Thục, Nguyễn Danh Thế nhiều lần dâng sớ can, nhưng lúc đó Thần Tông không có thực quyền, biết mình không thể chống lại chúa Trịnh nên không nghe và nói rằng:

Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy.”.

Khi nhập cung, Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc không chỉ có vai vế là trưởng bối, mà còn hơn vua Thần Tông đến mười hai tuổi.

Sau lần Trịnh Tráng đánh Nguyễn lần thứ 2 (1633) không thành công, đầu năm 1643, chúa Trịnh lại rước Lê Thần Tông đi thân chinh đánh họ Nguyễn lần thứ 3. Xa giá của Thần Tông tiến vào châu Bố Chính, đóng tại xã An Bài, còn các tướng tiến quân đến cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn Phúc Lan dựa vào Lũy Thày chống cự. Do lúc đó mùa hè, khí hậu oi bức, quân Lê Trịnh bị bệnh nhiều nên Trịnh Tráng đành lui quân.

Lần thứ hai

Tháng 10 năm Quý Mùi (1643), vua nhường ngôi cho con là Lê Duy Hiệu sau khi ở ngôi được 25 năm. Về phần mình ông lên làm Thái thượng hoàng, còn Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc làm Hoàng thái hậu.

Tháng 8 năm 1649, Lê Chân Tông mất sớm, Thần Tông được Trịnh Tráng đưa trở lại ngôi vua.

Tháng 4 năm 1652, tại kỳ thi Điện, Lê Thần Tông đích thân ra đầu đề văn sách, hỏi về chính sự hay dở cho những người dự thi. Danh nhân Hồ Sĩ Dương cùng 6 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân trong dịp này.

Cuộc chiến tranh với họ Nguyễn ở phía nam vẫn tiếp diễn. Sau khi đẩy lùi được quân Nguyễn khỏi Nghệ An năm 1660, năm 1661, Trịnh Tạc (thay Trịnh Tráng năm 1657) lại đưa Lê Thần Tông đi nam tiến. Nhưng Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được, đến tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh bèn rút quân về bắc.

Tháng 9 năm 1662, Lê Thần Tông nhiễm bệnh ung thư và đến ngày 22 thì ông qua đời, hưởng thọ 56 tuổi, làm vua 2 lần tổng cộng 37 năm.

Trong cả 2 lần làm vua, ông 3 lần đi nam tiến đánh họ Nguyễn với các chúa Trịnh. Việc triều chính của Lê Thần Tông đều do họ Trịnh quyết định. Có ý kiến cho rằng cũng từng có ý định đoạt lại quyền hành cho họ Lê nhưng Trịnh Tùng là ông ngoại của ông, Trịnh Tráng vừa là cậu, lại vừa là bố vợ ông, bởi mối quan hệ đặc biệt đó mà ông không muốn đoạt lại quyền bính nữa.

Vua Lê Thần Tông được táng tại Ngọc Long, xã Quần Lai, huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá).

Gia đình

Cha mẹ

  • Cha: Lê Kính Tông
  • Mẹ: Trịnh Thị Ngọc Trinh, con gái thứ của chúa Bình An vương Trịnh Tùng

Những người vợ

Ngoài bà vợ đầu tiên là Trịnh Thị Ngọc Trúc, vua Lê Thần Tông có 5 phi tần nữa và điều kỳ lạ rằng, mỗi bà thuộc một dân tộc: vợ thứ 2 là người Thái, vợ thứ 3 là người Mường, vợ thứ 4 là người Hán, vợ thứ 5 người Lào và vợ thứ 6 người Hà Lan.

Hoàng hậu

Bài chi tiết: Trịnh Thị Ngọc Trúc

Tháng 5 năm Canh Ngọ (1630), chúa Trịnh Tráng ép vua Lê Thần Tông phải lấy con gái của mình là Trịnh Thị Ngọc Trúc để tấn phong làm hoàng hậu. Năm ấy vua Lê Thần Tông mới 23 tuổi còn bà Ngọc Trúc đã ở tuổi 36 .

Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc ở ngôi vị quốc mẫu không được bao lâu, bà đã mang theo con gái Ngọc Duyên (con của bà và Lê Trụ) rời cung, tu hành tại chùa Bút Tháp ở phía tây thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. (Linh mục Alexandre de Rhodes từng viết về bà Ngọc Trúc với rất nhiều lời ngợi khen: ” Bà rất thông chữ Hán, giỏi về thơ, chúng tôi gọi bà là Ca-tê-ri-na vì bà giống Thánh nữ về nhiệt tâm cũng như đạo hạnh, về những đức tính tinh thần cũng như sang trọng về dòng họ.)

Thứ phi

  • Phạm Thị Ngọc Hậu, sau được phong làm Đoan Thuần Hoàng Thái Hậu và là mẹ vua Lê Huyền Tông.

Bà quê ở làng Quả Nhuệ, huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), nhưng cũng có sách chép bà là người làng Kim Bảng, xã Nam Giang (nay là thôn Kim Bảng, xã Nam Giang, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Bà xuất thân trong một gia đình bình dân ở thôn quê nhưng từ nhỏ được cha mẹ dạy bảo cẩn thận. Năm 18 tuổi bà là một thiếu nữ vô xinh đẹp, đức hạnh đủ đầy. Năm 19 tuổi, Bà theo người thân ra kinh đô Thăng Long chơi, đó cũng là lúc Lê Thần Tông đang ở ngôi lần thứ nhất (1619-1643), ông nằm mộng thấy một người con gái xinh đẹp từ phía Nam đi đến, tự xưng là có duyên phận từ tiền kiếp. Giấc mộng đó lặp lại nhiều lần khiến Thần Tông lấy kinh ngạc. Ông mô tả lại dung nhan người trong mộng, sai họa quan trong triều vẽ thành tranh rồi cho người đi tìm kiếm. Đúng lúc các đại thần đang tìm thì họ bất ngờ gặp một cô gái giống hệt trong tranh đang đi dạo ở kinh đô. Vua liền cho người đưa cô gái vào cung hỏi chuyện thì được biết cô tên là Phạm Thị Ngọc Hậu, người xứ Thanh. Tin là ứng vào giấc mộng, Lê Thần Tông liền tuyển cô gái làm cung phi và rất sủng ái.

  • Nguyễn Thị Ngọc Bạch, Minh Thục Hoàng Thái Hậu và là mẹ vua Lê Chân Tông.

Bà quê ở xã Hoàng Đan, Sơn Nam Hạ (nay là xãYên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định)[10] Sau dịp quen tình cờ với bà, Lê Thần Tông lập bà làm Quý phi, truyền chỉ đổi tên quê bà từ tên xóm Thoi thành thôn Thanh Vân (Mây Xanh) để kỷ niệm mối duyên tình cờ của mình. Mùa hạ tháng 5 năm Nhâm Tuất (1682), triều đình truy tôn quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch làm Minh Thục hoàng thái hậu. Năm Giáp Tý (1684), vua Lê Hy Tông dâng thêm tôn hiệu cho bà là Minh Thục, Trinh Tĩnh, Thuần hòa Hoàng Thái hậu, sau đó sai người xây dựng điện Hoàng Long ở thôn Thanh Vân để thờ phụng, người dân đến nay vẫn quen gọi là đền bà Hoàng Thái hậu.

  • Chiêu nghi Lê Thị Ngọc Hoàng, mẹ vua Lê Gia Tông.
  • Trịnh Thị Ngọc Tấn, mẹ vua Lê Hy Tông.

Bà là người làng Đông Côi, xã Gia Đông, phủ Thuận Thành xứ Kinh Bắc (nay là thôn Đông Côi, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Bà tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Trúc. Sau khi Lê Thần Tông mất, dù đang mang thài nhưng bà vẫn xin được trở về quê để chịu tang vua. Bà quay lại nếp sống nghèo xưa. Ngày 15 tháng 3 năm Quý Mão (1663), Bà sinh một người con trai, đặt tên là Cáp Năm Cáp 13 tuổi, là Lê Duy Khoái lên ngôi (tức Lê Gia Tông) nhưng chỉ ở ngai vàng được 4 năm thì mất. Bà Ngọc Tấn theo đề nghị của triều đình cho con trai về kinh làm vua còn mình ở lại quê hương cho đến khi mất vào ngày 17 tháng 4 (không rõ năm). Lê Hy Tông đã làm lễ tang cho bà trọng thể và lập đền thờ tại Đông Côi. Hàng năm vào ngày 17 tháng 4 tổ chức cúng giỗ.

  • Nguyễn Thị Nhậm.
  • Nguyễn Thị Sinh.
  • Nguyễn Thị Vĩ.
  • Trần Thị Lãng.

Điều đặc biệt, ngoài số phi tần người Việt, để phục vụ mục đích chính trị và giao thương quốc tế, Vua Lê Thần Tông còn lấy một số phụ nữ nước ngoài làm vợ mà theo dã sử và tài liệu phương Tây thì những người này có vị thế cao hơn các phi tần người Việt, họ chỉ xếp sau hoàng hậu mà thôi.

Trong số 6 người vợ có thứ bậc cao trong cung, ngoài Hoàng hậu Ngọc Trúc và bà phi người Mường thì những người còn lại là các phi tần người Xiêm (Thái Lan ngày nay), Hán (Hoa), Ai Lao (Lào ngày nay) và Hòa Lan (tức Hà Lan).

Người vợ người Hà Lan của vua là con gái của Phó toàn quyền Hà Lan tại Đài Loan. năm 1630, trong chuyến thương đoàn Hà Lan sang Việt Nam vào, bà Orona được gặp vua Lê Thần Tông ở Thăng Long. Nghe theo lời của bố, bà ở lại Việt Nam làm vương phi của vua Thần Tông.

Các con

  • Lê Chân Tông
  • Lê Huyền Tông
  • Lê Gia Tông
  • Lê Hy Tông
  • 6 công chúa.
  • 3 con nuôi (trong đó có 1 người Hà Lan tên là Charles Hartsink.

Với 4 người con thay nhau làm vua, Lê Thần Tông cũng là vị vua có nhiều con làm vua nhất trong lịch sử Việt Nam. Trừ người con út Lê Hy Tông, 3 người con trước đều yểu mệnh.

Niên hiệu

Niên hiệu
Chữ Hán Dương lịch
Lần 1:

  • 1. Vĩnh Tộ (năm thứ nhất – năm thứ 10)
  • 2. Đức Long (năm thứ nhất – năm thứ 6)
  • 3. Dương Hòa (năm thứ nhất – năm thứ 9)

Lần 2:

  • 4. Khánh Đức (năm thứ nhất – năm thứ 5)
  • 5. Thịnh Đức (năm thứ nhất – năm thứ 6)
  • 6. Vĩnh Thọ (năm thứ nhất – năm thứ 5)
  • 7. Vạn Khánh (năm thứ nhất)
I

  • 永祚
  • 德龍
  • 陽和

II

  • 慶德
  • 盛德
  • 永壽
  • 萬慶
I

  • (6/1619-1628)
  • (1629-1635)
  • (1635-1643)

II

  • (10/1649-1653)
  • (1653-1658)
  • (1658-8/1662)
  • (9/1662)

Đánh giá

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” viết:

…Vua …thông minh, học rộng, mưu lược sâu, văn chương giỏi, đáng khen là bậc vua giỏi. Song chốn cung vi không có chế độ, mê hoặc Phật giáo, đó là chỗ kém
…Vua tính trời trầm tĩnh, khoan dung phúc hậu, có đức của bậc đế vương. Trong khoảng 6 – 7 năm, liền năm được mùa; nếu trời cho sống lâu thì cũng được ngang tiếng trị hiệu đông người giàu của Văn Đế nhà Hán” .

Thông tin thêm

Những người vợ của vua Lê Thần Tông đều sống rất hòa thuận với nhau. Ngay cả khi chết, cả sáu người vợ này cũng bày tỏ ý nguyện có thể ở bên nhau mãi mãi. Tương truyền rằng sáu pho tượng nhập thần của sáu người vợ vua Lê Thần Tông ở chùa Mật Sơn, tỉnh Thanh Hóa là do sáu bà cùng lòng cùng sức bỏ tiền công đức ra làm, với nguyện ước mãi mãi bên nhau. Trong đó, tượng bà Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc ngự trên toà sen còn các bà khác đội vương miện trong tư thế tọa thiền. Mỗi pho tượng thể hiển một nét dung nhan khác nhau và thấy rõ trang phục của mỗi bà đúng theo y phục dân tộc của từng người. Đặc biệt, y phục, váy áo của pho tượng tạc bà người Hà Lan, dù là tượng thờ, cổ áo trong vẫn trễ xuống để lộ một mảng ngực.

Năm 1959, năm pho tượng vợ vua Lê Thần Tông đã được rước về đền Nhà Lê – di tích được xếp hạng Di tích lịch sử cấp nhà nước, cách chùa Mật Sơn hơn 1 cây số, thuộc địa phận phườngĐông Vệ. Riêng tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được đưa về Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

(Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Th%E1%BA%A7n_T%C3%B4ng)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s