Nguyễn Phúc Ưng Ái

Dục Đức (1852 – 1883) tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Ái, là vị vua thứ năm của nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Ông lên ngôi vua ngày 20 tháng 7 năm1883, nhưng tại vị chỉ được mấy ngày

Thân thế

Nguyễn Phúc Ưng Ái sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852 tại Huế. Có nguồn ghi ông sinh 4 tháng 1 năm Quý Sửu (tức 11 tháng 2 năm 1853). Ngài là con thứ 2 của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga.

Năm 1869, 17 tuổi, ngài được vua Tự Đức chọn làm con nuôi (vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên vua Tự Đức không có con)và đổi tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân (阮福膺禛), đồng thời cho xây Dục Đức Đường để ở và giao cho Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên(vợ vua Tự Đức, sau này là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) trông coi, dạy bảo. Năm 1883, ngài được phong làm Thụy Quốc công.

Tại vị chỉ mấy ngày

Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết: “… Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây.” Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu “không chắc đảm đương nổi việc lớn” nhưng vua Tự Đức từ chối.

Thọ lãnh di chiếu của Tự Đức, Ưng Chân lên ngôi kế vị ngày 20 tháng 7 năm 1883 (theo một vài tài liệu thì đó là ngày 17 tháng 7). Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này. Hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bèn dâng lên Hoàng Thái hậuTừ Dụ (mẹ vua Tự Đức) tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn:

  • Muốn sửa di chiếu của vua cha.
  • Có đại tang mà mặc áo màu.
  • Tự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thành.
  • Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha.

Sau khi nhận được sự đồng ý của Hoàng Thái hậu Từ Dụ và Hoàng hậu Lệ Thiên Anh, hai quan Phụ chính liền sai người giam vua Dục Đức ở Dục Đức Đường, rồi Thái Y Viện, và cuối cùng là ngục Thừa Thiên. Ở đây, nhà vua bị bỏ đói cho đến chết .

Vua Dục Đức mất ngày 6 tháng 10 năm 1883. Một số tài liệu ghi ông mất ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân, tức 24 tháng 10 năm 1884.

Vì chỉ làm vua được mấy ngày chưa kịp đặt niên hiệu (Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở Dục Đức Đường). Năm 1892, vua Thành Thái (con vua Dục Đức) đã truy tôn cha mình là Cung Tôn Huệ Hoàng Đế. Lăng của vua Dục Đức là An Lăng, tại làng An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.

Con cái

Vua Dục Đức có 19 con, gồm 11 con trai và 8 con gái.

[sửa]Hoàng tử

  1. Bửu Cương
  2. Bửu Thi
  3. Bửu Mỹ
  4. Bửu Nga
  5. Bửu Nghi
  6. Bửu Côn
  7. Bửu Lân (vua Thành Thái)
  8. Bửu Chuân
  9. Bửu Toàn, Tuyên Hoá Vương
  10. Bửu Liêm, Hoài An Vương
  11. Bửu Lộc, Mỹ Hoá Quận Công

Công chúa

  1. Mỹ Lương (bà chúa Nhất)
  2. Tân Phong (bà chúa Tám)

Và sáu công chúa không rõ tên.

(Nguồn : http://vi.wikipedia.org/wiki/D%E1%BB%A5c_%C4%90%E1%BB%A9c)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s